Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2020

TRANG CHỦ - Danh Mục Tác giả

 



THƠ Ả RẬP

1-Abū-Nuwās 

Majnun Layla

Omar Ibn Abu Rabia

Abu al Atahiyah

Al-Ma‘arri  

Ibn Zaydún

Ibn Hamdis

Bashar ibn Burd

Abdallah ibn al-Mu'tazz

Ibn Quzman

11-Nizar Qabbani



 THƠ THỔ NHĨ KỲ

1-Pir Sultan Abdal 

Karadzhaoglan

Yusuf Nabi

Yunus Emre

Bâḳî

Orhan Veli Kanik

Nazim Hikmet

Cahit Sıtkı Tarancı

9-Cahit Külebi



Kabul thất thủ. Người A Phú Hãn đu càng rơi từ độ cao gần 1000 mét xuống đất vần còn khóc.


Thơ THỔ NHĨ KỲ - Cahit Sıtkı Tarancı

 

Cahit Sıtkı Tarancı (tên khai sinh là Hüseyin Cahit; 4 tháng 10 năm 1910 – 13 tháng 10 năm 1956) – nhà thơ, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ.
 
Tarancı sinh ở thành phố Diyarbakir, học trung học tại trường St. Joseph, sau đó tốt nghiệp trung học tại trường Galatasaray ở Istanbul.
 
Sau khi tốt nghiệp trung học, ông tiếp tục theo học tại Trường Khoa học Chính trị ở Istanbul từ năm 1931 đến năm 1935. Sau đó ông đến Paris để theo học tại Viện Nghiên cứu Chính trị Paris (Institut d'Études Politiques de Paris) nhưng buộc phải trở về Thổ Nhĩ Kỳ do Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vào năm 1940.
 
Từ năm 1944 ông làm phiên dịch cho hãng Thông tấn Nhà nước Anadolu Ajansi và Bộ Lao động.
 
Năm 1951, ông kết hôn với Cavidan Tinaz. Năm 1954, ông bị liệt vì một căn bệnh hiểm nghèo. Do việc điều trị bệnh không thành công ở Thổ Nhĩ Kỳ, ông được đưa đến Vienna (Áo). Ông mất ngày 12 tháng 1 năm 1956 tại một bệnh viện ở đó. Thi thể của ông được đưa về Thổ Nhĩ Kỳ và được an táng tại Nghĩa trang Asri Cebeci ở Ankara.
 
7 bài thơ
 

BA MƯƠI LĂM TUỔI*
 
Tuổi ba mươi lăm! Một nửa chặng đường
Ta ở giữa đời như Dante vậy
Viên ngọc quý của một thời tuổi trẻ
Ta cầu xin, van vỉ chỉ uổng công
Không xấu hổ vì đã tuôn dòng lệ.
 
Có phải tuyết đã nằm trên thái dương?
Những vết nhăn đã hằn trên gương mặt
Và những quầng thâm ở quanh đôi mắt
Có phải chúng đều là kẻ thù chăng
Như tấm gương năm này qua năm khác?
 
Con người ta thay đổi theo thời gian!
Tôi nhìn vào những bức hình ngày ấy
Ở đâu rồi những tháng ngày sôi nổi?
Chàng thanh niên này chính là tôi chăng
Không phải thế, có điều gì gian dối.
 
Mối tình đầu mộng mơ thời tuổi trẻ
Ký ức về người ấy cũng lạ kỳ
Rằng ta đã từng chung sống với nhau
Rồi ta chia tay mỗi người một ngả
Nỗi cô đơn theo ngày tháng dâng đầy.
 
Có một màu sắc khác của bầu trời!
Đá thì cứng – tôi muộn màng nhận thấy –
Nước thì nhấn chìm, lửa thì bùng cháy!
Mỗi ngày sinh ra một sự dày vò
Đến tuổi này con người ta mới hiểu.
 
Mộc qua vàng, lựu đỏ vào mùa thu
Theo thời gian tôi thấy mình gần lại.
Tại vì sao chim bay trong không khí?
Tang lễ từ đâu? Ai đã chết rồi?
Có bao nhiêu khu vườn hoang như vậy?
 
Bạn sẽ làm gì nếu một ngày kia
Bạn ngủ say rồi không còn thức dậy
Biết ở đâu, thế nào, năm bao nhiêu tuổi?
Bạn có tấm thảm* dùng để nguyện cầu
Như ngai vàng trên đá musalla** ấy.
______________

*Nói theo cách của Dante trong “Thần Khúc”: “Nel mezzo del cammin di nostra vita…”(Con đường đời tôi đã đi đến nửa…) tức là năm ba mươi lăm tuổi.
**Trong nguyên bản: namazlık – là tấm thảm nhỏ dùng trong khi cầu nguyện.
***Đá musalla là hòn đá cao phía trước lối vào nhà thờ Hồi giáo. Người ta đặt quan tài của người chết trên phiến đá này trong buổi cầu nguyện vĩnh biệt.
 
Otuz Beş Yaş
 
Yaş otuz beş! Yolun yarısı eder.
Dante gibi ortasındayız ömrün.
Delikanlı çağımızdaki cevher,
Yalvarmak, yakarmak nafile bugün,
Gözünün yaşına bakmadan gider.
 
Şakaklarıma kar mı yağdı ne var?
Benim mi Allahım bu çizgili yüz?
Ya gözler altındaki mor halkalar?
Neden böyle düşman görünürsünüz;
Yıllar yılı dost bildiğim aynalar?
 
Zamanla nasıl değişiyor insan!
Hangi resmime baksam ben değilim:
Nerde o günler, o şevk, o heyecan?
Bu güler yüzlü adam ben değilim
Yalandır kaygısız olduğum yalan.
 
Hayal meyal şeylerden ilk aşkımız;
Hatırası bile yabancı gelir.
Hayata beraber başladığımız
Dostlarla da yollar ayrıldı bir bir;
Gittikçe artıyor yalnızlığımız.
 
Gökyüzünün başka rengi de varmış!
Geç farkettim taşın sert olduğunu.
Su insanı boğar, ateş yakarmış!
Her doğan günün bir dert olduğunu,
İnsan bu yaşa gelince anlarmış.
 
Ayva sarı nar kırmızı sonbahar!
Her yıl biraz daha benimsediğim.
Ne dönüp duruyor havada kuşlar?
Nerden çıktı bu cenaze? Ölen kim?
Bu kaçıncı bahçe gördüm tarumar.
 
N'eylersin ölüm herkesin başında.
Uyudun uyanamadın olacak
Kim bilir nerde, nasıl, kaç yaşında?
Bir namazlık saltanatın olacak.
Taht misali o musalla taşında.
  

NẾU ANH NÓI RẰNG
 
Nếu anh nói rằng một buổi tối tháng tư
Có cơn gió mát lành từ em thổi đến
Anh nhìn thấy trong em màu xanh của biển
Anh lang thang nơi góc kín của khu rừng
Anh đưa tay bẻ những cánh hoa không tàn
Anh cày cấy trong em vùng đất màu mỡ
Nếm mọi loài trái cây có ở trần gian.
 
Nếu anh nói rằng em đối với anh
Anh cần em như là không khí
Anh cần em giống như cơm ăn
Anh cần em giống như nước uống
Đối với anh em là một phước lành!
 
Nếu anh nói rằng…
Người yêu dấu ơi, em hãy tin anh
Em là mùa xuân trong vườn, là ngày hội
Em là rượu ngon đặt ở trên bàn
Anh đang sống trong em
Và em đang làm chủ.
 
Hãy để anh kể về vẻ đẹp của em
Cùng với gió, với sông, với những con chim.
Và nếu một trong những ngày sắp tới
Em không còn nghe giọng nói
Giữa tiếng gió, tiếng sông và tiếng của chim
Thì em biết rằng anh đã không còn.
 
Nhưng em đừng buồn mà hãy vui lên
Anh sẽ kể cho côn trùng về vẻ đẹp của em
Và rồi một thời gian sau đó
Em lại nghe giọng của anh từ giữa trời xanh
Hãy nhớ rằng đó là ngày phán xử
Anh lại đi tìm em. 
 
Desem ki
 
Desem ki vakitlerden bir Nisan akşamıdır,
Rüzgârların en ferahlatıcısı senden esiyor,
Sende seyrediyorum denizlerin en mavisini,
Ormanların en kuytusunu sende gezmekteyim,
Senden kopardım çiçeklerin en solmazını,
Toprakların en bereketlisini sende sürdüm,
Sende tattım yemişlerin cümlesini.
 
Desem ki sen benim için,
Hava kadar lazım,
Ekmek kadar mübarek,
Su gibi aziz bir şeysin;
Nimettensin, nimettensin!
 
Desem ki...
İnan bana sevgilim inan,
Evimde şenliksin, bahçemde bahar;
Ve soframda en eski şarap.
Ben sende yaşıyorum,
Sen bende hüküm sürmektesin.
 
Bırak ben söyleyeyim güzelliğini,
Rüzgârlarla, nehirlerle, kuşlarla beraber.
Günlerden sonra bir gün,
Şayet sesimi farkedemezsen,
Rüzgârların, nehirlerin, kuşların sesinden,
Bil ki ölmüşüm.
 
Fakat yine üzülme, müsterih ol;
Kabirde böceklere ezberletirim güzelliğini,
Ve neden sonra
Tekrar duyduğun gün sesimi gökkubbede,
Hatırla ki mahşer günüdür
Ortalığa düşmüşüm seni arıyorum.
  

HÔM NAY NGÀY THỨ SÁU
 
Hôm nay ngày thứ sáu
Tôi lại nhớ đến bà
Nhớ tuổi thơ của tôi
Những ngày này dài lắm!
Mẩu bánh mì rơi xuống
Tôi hôn, đưa lên đầu!
 
Tôi vẫn tin như vầy
Ở bên kia thế giới
Cũng là ngày thứ sáu
Bà tôi cũng nguyện cầu
Buộc khăn trắng trên đầu
Cúi đầu trên tấm thảm
Từ Thánh địa Mecca.
 
Tôi mong rằng bà tôi
Trong lời cầu nguyện ấy
Sẽ vẫn nhớ về tôi
Nhớ rằng tôi tội lỗi.
 
Bugün Cuma
 
Bugün cuma;
Büyükannemi hatırlıyorum,
Dolayısıyla çocukluğumu,
Uzun olaydı o günler!
Yere düşen ekmek parçasını
Öpüp başıma götürdüğüm günler!
 
O zaman inandığım gibi,
Sahiden bir öbür dünya varsa eğer,
Orada da cumaysa bugün,
Başında bulutlardan beyaz örtüsü,
Büyükannem namaz kılmaktadır,
Namahrem eli değmez seccadesinde;
Mekkei Mükerremeden getirilmiş.
 
Dilerim duasında unutmasın beni;
Günahkar olduğumu hatırlayarak.
  

SỰ YÊN LẶNG TRONG CUỘC ĐỜI TÔI
 
Như đoàn lạc đà không có chuông, người dẫn
Không cho ai xem hàng tơ lụa của mình
Di chuyển bên nhau trong sa mạc vô biên
Cuộc sống của tôi cũng trôi đi tĩnh lặng.
 
Vì vậy, cuộc đời tôi mỗi giờ mỗi phút
Sẽ tan chảy theo cách mà băng giá tự tan
Sẽ không ai biết rằng tôi đã chết hay còn
Ngoài sao trên trời và sói trên mặt đất!
 
Ömrümde Sükut
 
Çıngıraksız, rehbersiz deve kervanı nasıl,
İpekli mallarını kimseye göstermeden,
Sonu gelmez kumlara uzanırsa muttasıl,
Ömrüm böyle esrarlı geçecek ses vermeden,
 
Ve böylece bu ömür, bu ömür her dakika,
Bir buz parçası gibi kendinden eriyecek.
Semada yıldızlardan, yerde kurtlardan başka,
Yaşayıp öldüğümü kimseler bilmeyecek!
  

NGỰC PHỤ NỮ
 
Nếu ngực của phụ nữ bắt đầu nói
Nó trở thành biển đẹp tuyệt vời
Tôi không nói là bình tĩnh nhất
Vì đầu của bạn sẽ bị xé nát
Bạn sẽ quên bạn đã ở đâu
Và bạn sẽ tìm cách tự sát
Bằng cách nhìn vùng biển tuyệt đẹp
 
Xin gửi lời chào đến những kẻ nhảy tàu ...
 
Kadın Göğsü
 
Bir kadın göğsü başlarsa konuşmaya,
En güzel deniz olur;
En sakin demiyorum
Başın döner dalgasından
Nereye gittiğini unutup
İntihar etmek istersin
Baktıkça bu muhteşem denize.
 
Vapurdan atlayanlara selam.
 
 
XÁC CHẾT MƠ MÀNG
 
Hôm qua một phụ nữ xinh đẹp
Đi qua ngôi mộ của tôi
Tôi nhìn ngắm người phụ nữ này
Ngắm đôi bàn chân của nàng tuyệt đẹp
Rồi suốt đêm không làm sao ngủ được
Bạn không tin, nếu tôi nói điều này
Tôi quên rằng tôi là người đã chết
Khi tôi đưa cho nàng chiếc khăn tay
Mà mà nàng đã để rơi xuống đất.
 
Dalgın Ölü
 
Dün güzel bir kadın geçti
Kabrimin yakınından
Doya doya seyrettim
Gün hazinesi bacaklarını
Gecemi altüst eden
Söylesem inanmazsınız
Kalkıp verecek oldum
Düşürünce mendilini
Öldüğümü unutmuşum
  

KHỎA THÂN
 
Người phụ nữ trong đêm không ngủ của tôi!
Đôi mắt cô như ánh trăng tỏa sáng
Thân thể cô tựa như là tuyết trắng
Mái tóc cô là kho báu chứa vàng.
 
Cô ấy không biết rằng tôi khao khát
Không biết rằng cô ấy đang khỏa thân
Giàu hay nghèo cô ấy chẳng quan tâm
Cô ấy xinh đẹp và cô hạnh phúc!
 

 
Uykusuz gecemde bir kadın!
Gözlerinin ay ışığında
Vücudu kar beyazlığında;
Saçları bir hazine altın.
 
Ne ateşimden haberi var,
Ne bilir çıplak olduğunu;
Varlığını ve yoksulluğunu
Duymadan güzel ve bahtiyar!
 

Thơ THỔ NHĨ KỲ - Cahit Külebi

 


Cahit Külebi (20 tháng 12 năm 1917 – 20 tháng 6 năm 1997) – nhà thơ lớn của Thổ Nhĩ Kỳ thế kỷ XX. Ông có một vị trí quan trọng trong nền thơ ca đương đại Thổ Nhĩ Kỳ do gắn bó với truyền thống thơ ca dân gian, lấy tình yêu quê hương, con người và thiên nhiên làm chủ đề chính.
 
Külebi sinh ra ở Çeltek, một ngôi làng ở huyện Zile, tỉnh Tokat, Đế chế Ottoman. Ông hoàn thành chương trình tiểu học ở Tokat và học trung học ở Sivas. Sau đó, ông đến Istanbul học tại Khoa Ngôn ngữ và Văn học Thổ Nhĩ Kỳ của Trường Cao đẳng Sư phạm Istanbul và tốt nghiệp năm 1940. Sau khi học xong, ông làm giáo viên dạy văn ở Antalya và Ankara. Năm 1964, ông làm tùy viên văn hóa của Thổ Nhĩ Kỳ tại Thụy Sĩ. Sau khi trở về Thổ Nhĩ Kỳ, ông làm Tổng thư ký Hiệp hội Ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ. Ông mất ở Ankara năm 1997.
 
1 bài thơ
 

CÂU CHUYỆN
 
Đôi bờ môi em hồng
Bàn tay em trắng nõn
Bàn tay anh nồng ấm
Giữ một chút đi em!
 
Anh sinh ở ngôi làng
Không có cây óc chó
Anh khát khao mát mẻ
Vuốt ve chút đi em!
 
Anh sinh ở ngôi làng
Đồng lúa mì chẳng có
Xõa mái tóc non trẻ
Nâng nhẹ chút đi em!
 
Anh sinh ở ngôi làng
Buổi tối đầy trộm cướp
Anh không thích cô độc
Trò chuyện chút nghe em!
 
Anh sinh ở ngôi làng
Gió từ phương bắc thổi
Đôi môi anh nứt nẻ
Hôn một chút nghe em!
 
Em như Thổ Nhĩ Kỳ tươi sáng đẹp xinh
Nơi anh sinh ra cũng rất xinh đẹp
Em sinh ở đâu hãy cho anh biết
Hãy kể anh nghe một chút nghe em!
 
Hikaye
 
Senin dudakların pembe
Ellerin beyaz,
Al tut ellerimi bebek
Tut biraz!
 
Benim doğduğum köylerde
Ceviz ağaçları yoktu,
Ben bu yüzden serinliğe hasretim
Okşa biraz!
 
Benim doğduğum köylerde
Buğday tarlaları yoktu,
Dağıt saçlarını bebek
Savur biraz!
 
Benim doğduğum köyleri
Akşamları eşkiyalar basardı.
Ben bu yüzden yalnızlığı hiç sevmem
Konuş biraz!
 
Benim doğduğum köylerde
Şimal rüzgarları eserdi,
Ve bu yüzden dudaklarım çatlaktır
Öp biraz!
 
Sen Türkiye gibi aydınlık ve güzelsin!
Benim doğduğum köyler de güzeldi,
Sen de anlat doğduğun yerleri,
Anlat biraz! 


Thơ THỔ NHĨ KỲ - Nazim Hikmet

 


Nâzım Hikmet Ran (15 tháng 1 năm 1902 – 3 tháng 6 năm 1963) – nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch người Thổ Nhĩ Kỳ. Ông được miêu tả là một “người cộng sản lãng mạn” và “nhà cách mạng lãng mạn”. Ông đã nhiều lần bị bắt vì niềm tin chính trị của mình và đã trải qua phần lớn cuộc đời trưởng thành của mình trong tù hoặc lưu đày. Thơ của ông đã được dịch ra hơn năm mươi thứ tiếng.
 
Tiểu sử
Sinh ra trong một gia đình quý tộc. Cha ông, Hikmet Bey, là một công chức làm việc trong Bộ Ngoại giao Đế quốc Ottoman. Ông nội Mehmet Nazim Pasha từng là thống đốc ở Diyarbakir, Aleppo, Konya, Sivas và là thành viên của dòng Mevlevi Sufi và tuyên bố quan điểm tự do. Mẹ của ông là một phụ nữ có học thức thời bà, biết tiếng Pháp, biết chơi piano.
 
Nazim Hikmet đã giới thiệu thể thơ tự do (vers libre) vào thơ Thổ Nhĩ Kỳ, tự tách mình ra khỏi “các nhà thơ đồng âm” về mặt khái niệm. Những bài thơ đầu tiên của ông được viết theo hệ thống âm tiết nhưng sau đó ông bắt đầu tìm kiếm những hình thức mới. Hikmet chịu ảnh hưởng từ những người theo chủ nghĩa Vị lai của Liên Xô, đặc biệt là Mayakovsky. Trở về quê hương năm 1924, ông lãnh đạo phong trào tiên phong ở Thổ Nhĩ Kỳ, thử nghiệm trong thơ ca và kịch. Sau khi từ bỏ thơ âm tiết, Hikmet chuyển sang sử dụng thơ tự do, điều này cho phép ông nhận thức đầy đủ hơn các đặc điểm thanh âm của ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ. Các yếu tố của truyền thống thơ ca Ottoman được kết hợp trong thơ của ông với những hình thức mới nhất.
 
Lối hành văn trào lộng và những tình tiết vốn có trong những bài thơ ban đầu của ông sau này đã nhường chỗ cho chất trữ tình sâu lắng. Ảnh hưởng của Nazim Hikmet đối với thơ ca Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại là rất lớn, ở đó cả một xu hướng gắn liền với tên tuổi của ông.
 
Bất chấp sự đàn áp của nhà nước, Nazım Hikmet nhanh chóng được công chúng biết đến, trong các năm 1930-1932 ông đã xuất bản 5 tập thơ và 2 vở kịch. Tuy nhiên, các tác phẩm của Hikmet thường bị kiểm duyệt và bản thân ông cũng nhiều lần bị bắt. Năm 1933 ông bị buộc tội tham gia vào một tổ chức bị cấm và âm mưu lật đổ chế độ, bị bắt và bị kết án 5 năm tù (1 năm sau được ân xá). Sau đó, cứ sau mỗi cuốn sách xuất bản ông đều bị kết án tù.
 
Nazim Hikmet qua đời vì một cơn đau tim ngày 3 tháng 6 năm 1963. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Novodevichy ở Moskva, Nga.
 
Trong những năm gần đây đã có một cuộc thảo luận ở Thổ Nhĩ Kỳ xung quanh việc trả lại quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ cho nhà thơ. Để ủng hộ điều này, theo sáng kiến của Đảng Quyền lực Xã hội Chủ nghĩa (nay là Đảng Cộng sản), hàng nghìn chữ ký của người dân đã được thu thập nhưng những người theo chủ nghĩa dân tộc và các chính trị gia cánh hữu đã quyết liệt chống lại những nỗ lực phục hồi “kẻ phản bội” đã “chống lại nhà nước”.
 
5 bài thơ
 

ĐÔNG KI SỐT
 
Chàng hiệp sĩ của tuổi xuân bất tử
Tuổi năm mươi nghe lời gọi trong tim
Một buổi sáng tháng bảy chàng lên đường
Vì cái đẹp, công bằng và chính trực.
Trước mặt chàng – những khổng lồ ngu ngốc
Con ngựa Rosinant dũng cảm nhưng buồn.
 
Tôi biết
Rằng chàng vẫn luôn khát khao cái đẹp
Nhưng nếu trái tim chỉ nặng nửa cân
Thì Đông Ki Sốt ạ, chỉ vô phương
Đánh nhau với cối xay gió là vô ích.
 
Chàng nói đúng, quả thật
Đun-xi-nê* là người đẹp nhất trần gian
Chàng sẽ gào lên trước mặt những con buôn
Và chúng sẽ lăn xả vào chàng đánh đập
Nguyền rủa chàng không một chút tiếc thương.
Nhưng chàng hiệp sĩ của niềm khao khát
Không một ai có thể thắng được chàng
Trong áo giáp nặng nề chàng sẽ cháy lên
Và ánh lửa bập bùng trong đôi mắt
Để Đun-xi-nê sẽ đẹp gấp trăm lần.
_____________

*Đun-xi-nê (Dulcinea) là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Don Quijote” của nhà văn Tây Ban Nha Miguel de Cervantes, người yêu dấu của Đông Ki Sốt.
 
Don Kişot
 
Ölümsüz gençliğin şövalyesi
ellisinde uydu yüreğinde çarpan aklına,
bir Temmuz sabahı fethine çıktı
güzelin, doğrunun, haklının:
önünde, şirret, aptal devleriyle dünya,
altında mahzun, fakat kahraman Rosinant’ı.
 
Bilirim
hele bir düşmeyegör hasretin hâlisine,
hele bir de tam okka dört yüz dirhemse yürek,
yolu yok, Don Kişot’um benim, yolu yok,
yeldeğirmenleriyle döğüşülecek.
 
Haklısın,
elbette senin Dülsinya’ndır en güzel kadını yeryüzünün,
sen, elbette bezirgânların suratına haykıracaksın bunu,
alaşağı edecekler seni
bir temiz pataklayacaklar.
Fakat, sen, yenilmez şövalyesi susuzluğumuzun,
sen, bir alev gibi yanmakta devâmedeceksin
ağır, demir kabuğunun içinde
ve Dülsinya bir kat daha güzelleşecek…
  

NÀNG BẢO ĐẾN GẤP VỚI EM
 
Nàng bảo: “Đến gấp với em”
“Hãy cười với em” – nàng bảo
Nàng bảo: “Anh hãy yêu em”
“Hãy giết em đi” – nàng bảo.
 
Và tôi đến gấp
Và tôi đã cười
Và tôi đã yêu
Và tôi đã giết.
 
Gelsene dedi bana
 
Gelsene dedi bana
Kalsana dedi bana
Gülsene dedi bana
Ölsene dedi bana
 
Geldim
Kaldım
Güldüm
Öldüm”
 
 
BIỂN ĐẸP NHẤT
 
Biển đẹp nhất trên đời
Đó là nơi mà ta chưa từng đến.
Đứa trẻ ngoan nhất trên đời
Là đứa trẻ hãy vẫn còn chưa lớn.
 
Những ngày tháng đẹp nhất trong đời
Là những ngày mà ta chưa trải nghiệm.
Lời đẹp nhất nói với em tôi muốn
Là những lời tôi chưa nói với ai…
 
En güzel
 
En güzel deniz:
henüz gidilmemiş olandır.
En güzel çocuk:
henüz büyümedi.
 
En güzel günlerimiz:
henüz yaşamadıklarımız.
Ve sana söylemek istediğim en güzel söz:
henüz söylememiş olduğum sözdür...
  

GƯƠNG MẶT CỦA NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ
 
Maria không sinh ra Đấng Christ
Maria không phải là mẹ của Chúa Kitô
Maria là mẹ của bao người mẹ
Đức Mẹ Đồng Trinh sinh đứa con trai
Đứa con trai của loài người
Có phải chính vì thế
Mà Maria xinh đẹp ở khắp nơi
Và con trai của Maria giống tất cả mọi người.
 
Khuôn mặt của những người phụ nữ
là những câu chuyện day dứt của chúng ta
sự xấu hổ, nỗi buồn và máu của ta
như lưỡi cày vẽ lên gương mặt những người phụ nữ.
 
Và niềm vui của ta trong đôi mắt phụ nữ
lấp lánh như bình minh trên mặt nước hồ.
 
Trên gương mặt phụ nữ là những mơ ước của ta
những người yêu dấu của ta luôn trước mặt
gần hơn và xa hơn với bản chất thực sự của ta.
 
Kadinlarimizin Yüzleri
 
Meryem ana Tanrıyı doğurmadı
Meryem ana Tanrının anası değil
Meryem ana analardan bir ana
Meryem ana bir oğlan doğurdu
Âdemoğullarından bir oğlan
Meryem ana bundan ötürü güzel bütün suretlerinde
Meryem ananın oğlu bundan ötürü kendi oğlumuz gibi
                                                                         yakın bize
 
Kadınlarımızın yüzü acılarımızın kitabıdır
acılarımız, ayıplarımız ve döktüğümüz kan
karasabanlar gibi çizer kadınların yüzünü.
 
Ve sevinçlerimiz vurur gözlerine kadınların
göllerde ışıyan seher vakıtları gibi.
 
Hayallerimiz yüzlerindedir sevdiğimiz kadınların,
görelim görmeyelim karşımızda dururlar
                      gerçeğimize en yakın ve en uzak.
  

NỖI BUỒN
 
Tôi muốn trở về với biển!
Tôi muốn hình tôi phản ánh
Trong gương nước biển bao la!
Tôi muốn trở về với biển!
 
Những con tàu hướng về những chân trời xa
Giá mà nỗi buồn có thể treo lên cánh buồm lộng gió
Giá được suốt ngày đứng trên tàu nhìn phía biển xa
Thì chết cũng không sao vì cuộc đời này đáng giá.
 
Tôi muốn như tia sáng chìm trong nước sâu
Rồi ánh lên trên ngọn sóng
Tôi muốn quay về với biển khơi!
Tôi muốn quay về với biển!
 
Hasret
 
Denize dönmek istiyorum!
Mavi aynasında suların:
boy verip görünmek istiyorum!
Denize dönmek istiyorum!
 
Gemiler gider aydın ufuklara gemiler gider!
Gergin beyaz yelkenleri doldurmaz keder.
Elbet ömrüm gemilerde bir gün olsun nöbete yeter.
Ve madem ki bir gün ölüm mukadder;
 
Ben sularda batan bir ışık gibi
sularda sönmek istiyorum!
Denize dönmek istiyorum!
Denize dönmek istiyorum!
 

Thơ THỔ NHĨ KỲ - Orhan Veli Kanık

 


Orhan Veli Kanık (14 tháng 4 năm 1914 – 14 tháng 11 năm 1950) – nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ, một trong những người sáng lập “Phong trào Garip” cùng với Oktay Rıfat và Melih Cevdet. Với mục tiêu thay đổi cơ bản hình thức truyền thống trong thơ Thổ Nhĩ Kỳ, ông đã đưa các từ ngữ thông tục vào ngôn ngữ thơ.
 
Tiểu sử
Orhan Veli sinh ở Istanbul. Cha là người chỉ huy dàn nhạc giao hưởng của Tổng thống. Học triết  tại Khoa văn của Đại học Istanbul. Sau khi bỏ dở việc học, ông làm quan chức bưu chính ở Ankara, sau đó làm phiên dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Thổ ở Bộ Giáo dục Thổ Nhĩ Kỳ. Chưa đầy 2 năm sau, ông nghỉ việc, tập trung hoàn toàn cho hoạt động văn học. Xuất bản tạp chí văn học “Yaprak”, nhà thơ nỗ lực dân chủ hóa thơ ca, hướng về cuộc sống đời thường. Những bài thơ thời trẻ của ông chịu ảnh hưởng của Mehmet Hamdi và Ahmet Muhip Dyranas. Cùng với Melih Cevdet và Oktay Rifat, ông đã vạch ra nguyên tắc cơ bản của thơ, đó là nghệ thuật phải “thu hút không phải năm giác quan của con người mà là ý thức của người đó”. Năm 1941, ông xuất bản cuốn sách “Người lang thang” (Garip) chứa bản tuyên ngôn văn học bằng những bài thơ của ba nhà thơ nói trên.
 
Sau khi “Yaprak”bị đóng cửa Kanık chuyển về İstanbul. Trong lần đến thăm Ankara thì vào ngày 10 tháng 11 năm 1950 ông rơi xuống một cái hố trên đường phố do các công trình đô thị đào và bị thương nhẹ. Ông trở lại İstanbul hai ngày sau đó. Ngày 14 tháng 11 ông cảm thấy khó chịu sau khi ăn trưa tại nhà một người bạn và phải nhập viện. Ông qua đời vì chứng phình động mạch tại bệnh viện Cerrahpaşa.
 
Ngày nay, Orhan Veli Kanik là biểu tượng của sự tìm kiếm thường xuyên trong thơ ca Thổ Nhĩ Kỳ. Ông là tác giả của các tuyển tập “Điều tôi không thể từ chối” (Vazgeçemediğim, 1945), “Như Destan” (Destan Gibi, 1946), “Mới” (Yenisi, 1947), “Trái ngược” (Karşı, 1949)…
 
12 bài thơ
 

DÀNH CHO ISTANBUL
 
Tháng Tư
 
Không thể
Làm thơ
Nếu bạn đang yêu
Và không thể viết
Nếu là tháng tư.
 
Mong muốn và hoài niệm
 
Mong muốn là một chuyện
Hoài niệm lại chuyện khác rồi
Ở nơi không thấy mặt trời
Thì biết làm sao để sống.
 
Côn trùng
 
Đừng suy nghĩ
Mà chỉ ước mơ!
Hãy xem côn trùng cũng thế.
 
Lời mời
 
Tôi đang đợi
Em hãy đến trong thời tiết như vầy
Để không làm sao từ chối.
 
İstanbul İçin
 
Nisan
 
İmkansız şey
Şiir yazmak,
Aşıksan eğer;
Ve yazmamak,
Aylardan nisansa.
 
Arzular ve Hâtıralar
 
Arzular başka şey,
Hâtıralar başka.
Güneşi görmeyen şehirde,
Söyle, nasıl yaşanır?
 
Böcekler
 
Düşünme,
Arzu et sade!
Bak, böcekler de öyle yapıyor.
 
Dâvet
 
Bekliyorum
Öyle bir havada gel ki,
Vazgeçmek mümkün olmasın.
  

TÔI MUA GIẺ RÁCH
 
Tôi mua những thứ giẻ rách
Biến chúng thành những ngôi sao
Âm nhạc là thức ăn cho hồn người
Tôi phát cuồng vì âm nhạc.
 
Tôi làm thơ
Tôi làm thơ và tôi mua giẻ rách
Tôi bán giẻ rách để mua âm nhạc
Giá mà tôi trở thành con cá ở trong chai!
 
Eskiler Alıyorum
 
Eskiler alıyorum
Alıp yıldız yapıyorum
Musiki ruhun gıdasıdır
Musikiye bayılıyorum
 
Şiir yazıyorum
Şiir yazıp eskiler alıyorum
Eskiler verip Musikiler alıyorum.
Bir de rakı şişesinde balık olsam.
 
 
BIỂN
 
Tôi ở trong căn phòng bên biển cả
Không cần đưa mắt nhìn qua cửa sổ
Tôi vẫn biết những con thuyền bên ngoài
Chở đầy dưa hấu.
 
Biển giống như tôi ngày ấy
Trêu chọc tôi như chú thỏ bằng gương
Đang nhảy nhót trên trần
Biển thích làm vậy.
 
Mùi rong biển
Và những tấm lưới trên bờ
Vẫn không nhắc điều gì
Về những trẻ em sống trên bờ biển.
 
Deniz
 
Ben deniz kenarındaki odamda,
Pencereye hiç bakmadan
Dışardan gecen kayıkların
Karpuz yüklü olduğunu bilirim.
 
Deniz, benim eskiden yaptığım gibi,
Aynasını odamın tavanında
Dolaştırıp beni kızdırmaktan
Hoşlanır.
 
Yosun kokusu
Ve sahile çekilmiş dalyan direkleri
Sahilde yasayan çocuklara
Hiçbir şey hatırlatmaz.
  

VĂN BIA
 
I
Không có điều gì đau khổ ở trần gian
Bằng ông đã khổ đau vì chai sạn
Ngay cả khi bị coi là quái đản
Cũng không làm khó chịu gì ông
Khi giày không còn cọ xát dưới chân
Ông cũng không hề nhắc tên Thánh
Ông lỗi lầm nhưng không lớn lắm
Thật đáng tiếc cho Süleyman Efendi. 
 
II
Đấy không phải là vấn đề khó xử
“Tồn tại hay không tồn tại” cho mình
Một buổi tối ông ngủ ngon
Sáng mai không còn dậy nữa.
Người ta mang ông tắm rửa
Và chôn ông xuống mồ.
Những người cho ông vay tiền đành phải
Bỏ hết nợ nần cho người đã ra đi
Còn những ai còn nợ tiền ông ấy
Chết là xong, ai còn bận tâm gì.
 
III
Người ta cất súng của ông vào kho
Đưa đồ đạc của ông cho người khác.
Trong túi ông không còn mẩu bánh mì
Trên bình không còn dấu vết bờ môi
Đời cuốn theo chiều gió
Ông ấy đã đi rồi
Ngay cả cái tên cũng không còn nữa
Chỉ còn lại những dòng này
Được khắc trên bia mộ:
“Chết là do Thánh Alla chỉ định, nhưng mà
Giá như chưa hề có cuộc chia ly”.
 
Kitabe-i Seng-i Mezar
 
I
Hiçbir şeyden çekmedi dünyada
Nasırdan çektiği kadar;
Hatta çirkin yaratıldığından bile
O kadar müteessir değildi;
Kundurası vurmadığı zamanlarda
Anmazdı ama Allah'ın adını,
Günahkâr da sayılmazdı.
Yazık oldu Süleyman Efendi’ye.
 
II
Mesele falan değildi öyle,
To be or not to be kendisi için;
Bir akşam uyudu;
Uyanmayıverdi.
Aldılar, götürdüler.
Yıkandı, namazı kılındı, gömüldü.
Duysalar öldüğünü alacaklılar
Haklarını helal ederler elbet.
Alacağına gelince...
Alacağı yoktu zaten rahmetlinin.
 
III
Tüfeğini deppoya koydular,
Esvabını başkasına verdiler.
Artık ne torbasında ekmek kırıntısı,
Ne matarasında dudaklarının izi;
Öyle bir ruzigar ki,
Kendi gitti,
İsmi bile kalmadı yadigâr.
Yalnız şu beyit kaldı,
Kahve ocağında, el yazısıyla:
"Ölüm Allah'ın emri,
"Ayrılık olmasaydı."
  

ĐỂ CÓ VIỆC LÀM
 
Tất cả những người phụ nữ xinh đẹp đều nghĩ
Rằng mỗi bài thơ tôi đều viết về tình
Và quả thế, tôi viết về chị em
Nhưng tôi thường xuyên khó chịu
Rằng tôi làm thơ như thế
Là chẳng qua để có việc gì làm.
 
İş Olsun Diye
 
Bütün güzel kadınlar zannettiler ki;
Aşk üstüne yazdığım her şiir
Kendileri için yazılmıştır.
Bense daima üzüntüsünü çektim.
Onları iş olsun diye yazdığımı
Bilmenin...
 
 
CHO QUÊ HƯƠNG
 
Điều gì ta chưa làm cho quê hương này?
Một số người trong chúng ta đã chết
Một số khác đã phát biểu những lời.
 
Vatan İçin
 
Neler yapmadık şu vatan için!
Kimimiz öldük;
Kimimiz nutuk söyledik.
 
 
NGÀY LỄ
 
Này quạ đen, quạ đừng nói gì với mẹ của tôi!
Khi đại bác nổ tôi bỏ nhà chạy trốn
Tôi sẽ đến ban quân sự tìm mọi người.
Nếu quạ không nói gì, tôi mua cho quạ bánh
Mua bánh mì tròn, bánh hình con gà trống
Và tôi sẽ đưa quạ cùng chơi xích đu
Tôi sẽ đưa hết tiền của tôi cho bạn.
Này quạ, làm ơn đừng nói gì với mẹ của tôi!
 
Bayram
 
Kargalar, sakın anneme söylemeyin!
Bugün toplar atılırken evden kaçıp
Harbiye nezaretine gideceğim.
Söylemezseniz size macun alırım,
Simit alırım, horoz şekeri alırım;
Sizi kayık salıncağına bindiririm kargalar,
Bütün zıpzıplarımı size veririm.
Kargalar, ne olur anneme söylemeyin!
 
 
CÓ ĐIỀU GÌ KHÔNG PHẢI THẾ
 
Biển ngày nào cũng đẹp thế này sao?
Trời ngày nào cũng tuyệt vời như thế?
Và có phải lúc nào cũng đẹp vậy
Những đồ vật, ô cửa sổ này
Không phải thế, trời ơi
Lạy Thánh Alla, lạy Chúa
Có điều gì không như thế ở đây.
 
Bir İş Var
 
Her gün bu kadar güzel mi bu deniz?
Böyle mi görünür gökyüzü her zaman?
Her zaman güzel mi bu kadar,
Bu eşya, bu pencere?
Değil,
Vallahi değil;
Bir iş var bu işin içinde.
  

MIỄN PHÍ
 
Cuộc đời được trao cho ta miễn phí
Miễn phí bầu trời và những đám mây
Miễn phí thung lũng, núi đồi
Miễn phí mưa, con đường bẩn
Miễn phí nhìn cửa hàng ô tô
Miễn phí hít khói bụi mịt mù
Miễn phí nhìn rạp chiếu bóng
Chỉ trả tiền cho bánh và bơ
Nhưng miễn phí nước biển
Bằng cái đầu trả giá cho tự do
Nhưng miễn phí cuộc đời nô lệ
Cuộc đời được trao miễn phí cho ta.
 
Bedava
 
Bedava yaşıyoruz, bedava;
Hava bedava, bulut bedava;
Dere tepe bedava;
Yağmur çamur bedava;
Otomobillerin dışı,
Sinemaların kapısı,
Camekanlar bedava;
Peynir ekmek değil ama
Acı su bedava;
Kelle fiyatına hürriyet,
Esirlik bedava;
Bedava yaşıyoruz, bedava.
 
 
BÓNG CỦA TÔI
 
Tôi mệt mỏi khi kéo theo chiếc bóng
Trong nhiều năm và ở dưới chân tôi
Muốn chút tự do trong thế giới này
Và tôi quyết định
Để bóng đi đường bóng, tôi đường tôi.
 
Gölgem
 
Bıktım usandım sürüklemekten onu,
Senelerdir, ayaklarımın ucunda;
Bu dünyada biraz da yaşayalım,
O tek başına,
Ben tek başıma.
  

NHỮNG CON NGƯỜI
 
Tôi yêu biết bao những con người
Những con người giống với
Những người sống trong màu sắc tươi rói
Trong thế giới mờ ảo của đề can
Cùng với gà, chó và thỏ rừng.
 
İnsanlar
 
Ne kadar severim o insanları!
O insanlar ki, renkli, silik
Dünyasında çıkartmaların
Tavuklar, tavşanlar ve köpeklerle beraber
Yaşayan insanlara benzer.
 
 
RA TRẬN
 
Chàng trai tóc vàng đi ra trận mạc!
Hãy quay về với vẻ đẹp như vầy:
Với mùi của biển trên bờ môi
Và muối trên mí mắt
Chàng trai tóc vàng đi ra trận mạc!
 
Harbe Giden
 
Harbe giden sarı saçlı çocuk!
Gene böyle güzel dön;
Dudaklarında deniz kokusu,
Kirpiklerinde tuz;
Harbe giden sarı saçlı çocuk!

Thơ THỔ NHĨ KỲ - Bâkî


 Bâḳî (باقى) là bút danh của nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ Mahmud Abdülbâkî (محمود عبدالباقى) (1526 – 1600). Ông được coi là một trong những người có đóng góp lớn nhất cho văn học Thổ Nhĩ Kỳ và văn học Azerbaijan, một trong “tứ đại” nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ thời phong kiến. Bâkî còn được gọi với cái tên Sultânüş-şuarâ (سلطان الشعرا), hay “Ông hoàng của các nhà thơ”.
 
Bâkî sinh ra trong một gia đình nghèo ở Constantinople (nay là Istanbul), cha của ông là một Muezzin, người gọi tín đồ cầu nguyện ở Nhà thờ Hồi giáo Fatih. Ban đầu, gia đình cho ông học nghề làm dây cương, nhưng ông thường bỏ ngang công việc để tham gia các lớp học tại một trung tâm giáo dục gần đó, hoặc trường dòng Hồi giáo. Vì điều này, cuối cùng gia đình đã cho phép ông đi học. Bâkî là một học sinh giỏi, tham dự các buổi giảng của nhiều giảng viên nổi tiếng thời bấy giờ. Trong những năm đi học, niềm yêu thích và tài năng của ông đối với thơ ca bắt đầu hình thành với sự giúp đỡ của nhà thơ Zâtî (ذاتی) (1471–1548). Sau khi hoàn thành chương trình học, ông làm giáo viên một thời gian nhưng sau đó ông được bổ nhiệm một số chức vụ khác nhau trong bộ máy quan lại của Đế chế Ottoman.
 
Baki nổi tiếng ở tất cả các thể loại thơ trữ tình. Nổi tiếng với “Mersiye-i Hazret-i Süleymân Khan” (مرثیه ﺣﻀﺮت سليمان خان) về cái chết của Sultan Süleymân Khan. Trong thơ ghazal, ông chịu ảnh hưởng của Hafiz, nhà thơ đã tôn vinh tình yêu trần thế và uống rượu như những niềm vui cao nhất của cuộc sống. Sử dụng nhiều loại bố cục khác nhau, Baki đã đưa nghệ thuật thơ ghazal trở nên hoàn hảo.
 
Ông chủ trương giải phóng văn học Thổ Nhĩ Kỳ khỏi sự bắt chước một cách phiến diện của thơ ca Ba Tư. Làm phong phú ngôn ngữ thơ, sử dụng nhiều từ thuần túy tiếng Thổ Nhĩ Kỳ trong lời thơ của mình, tránh kéo dài âm tiết một cách không tự nhiên, trái với quy luật thơ Ba Tư. Tập “Divan” của ông vẫn tồn tại cho đến ngày nay nhưng với số lượng không lớn.
 
Vốn là một nhà thơ trữ tình, Baki cũng làm thơ trào phúng và dịch các tác phẩm thần học từ tiếng Ả Rập sang tiếng Thổ Nhĩ Kỳ.
 
Bâkî qua đời ở Istanbul vào năm 1600.
 
3 bài thơ
 

HÌNH DÁNG EM XINH ĐẸP
 
Hình dáng em xinh đẹp
Tôi nhìn thấy từ xa
Nhìn thấy cả bông hoa
Trong bàn tay người đẹp.
 
Tôi nhìn thấy tất cả
Tôi thấy cả bờ môi
Nhìn thấy cả nốt ruồi
Trên màu hồng đôi má.
 
Mong manh như sợi chỉ
Ngực như bình pha lê
Và những chiếc hoa tai
Như là hoa đang nở.
 
Ánh nhìn và mái tóc
Của em thật tuyệt vời
Nhưng đức hạnh – hỡi ôi
Như lâu đài trên cát.
 
Cho dù tôi ao ước
Hy vọng vẫn không còn
Cho dù tôi yêu em
Không bao giờ có được.
 


HÃY ĐỂ LUÔN BÊN ANH
 
Hãy để luôn bên anh
Có người đẹp ngoan hiền
Với thân hình duyên dáng
Luôn cúi xuống bên anh.
 
Nếu không phải mỗi ngày
Thì sẽ là đêm vậy
Anh sẽ hôn người ấy
Âu yếm và mê say.
 
Thánh địa hay trường dòng
Mùa xuân quên cho vội
Yêu người đẹp, uống rượu
Tốt nhất cho đàn ông.
 
Quán rượu trong khu vườn
Có tiếng chim vui hót
Cứ để người đẹp rót
Cho ta rượu đầy tràn.
 
Hãy yên lặng trong lòng
Biết đợi chờ, kiên nhẫn
Cứ để linh hồn bạn
Lang thang và lang thang.
  

ĐỪNG CHAU MÀY VỚI ANH
 
Đừng chau mày với anh
Xin em hãy làm ơn
Đừng bỏ theo người khác
Xin em hãy làm ơn.
 
Xin em đừng bỏ anh
Rồi với người gặp gỡ
Xin đừng làm anh khổ
Xin em hãy làm ơn.
 
Đừng tệ bạc với anh
Đừng tốt với đối thủ
Điều này xin ghi nhớ
Xin em hãy làm ơn.
 
Anh thẳng như mũi tên
Đừng làm cho cong lại
Giống như cây cung cũ
Xin em hãy làm ơn.
 
Khi bỏ người yêu mình
Để đi theo người khác
Số kiếp sẽ trừng phạt
Điều này em biết không?